Lê
Lê là note trái cây trắng, mọng nước, được dựng gần như hoàn toàn từ nguyên liệu tổng hợp vì quả lê thật không cho tinh dầu đáng kể khi ép hay chưng cất. Mùi của nó nằm đúng giữa ngọt và tươi: có độ giòn của vỏ, độ ẩm của thịt quả, một chút mật loãng và hậu vị hơi ánh kim rất sạch. So với táo, lê tròn hơn, mềm hơn, ít chua gắt; so với đào, lê bỏ lớp lông béo ngậy để đổi lấy cảm giác trong trẻo. Đó là lý do lê thường được đặt ở top note: nó làm dịu ấn tượng đầu tiên, gợi hình ảnh da sạch và ánh sáng ban ngày. Trong họ Tươi mát, lê là note dễ mến, gần như không kén người mặc.
Hành trình của Lê
Chi Pyrus có mặt ở cả châu Âu lẫn Đông Á từ thời cổ đại, hai nhánh phát triển gần như song song. Người Trung Hoa trồng lê từ rất sớm, tạo ra dòng lê nashi vỏ nâu, giòn, nhiều nước, ăn tươi là chính. Người La Mã thì ghép cành, chọn giống và để lại những ghi chép sớm về hàng chục loại lê, phần lớn dùng để nấu chín hoặc ủ rượu. Cây lê sau đó theo các vườn tu viện lan khắp châu Âu.
Thời hoàng kim của lê đến muộn hơn. Trong khoảng thế kỷ 18 đến 19, giới làm vườn Bỉ, Pháp và Anh biến việc lai tạo lê thành thú chơi công phu, để lại những giống còn được trồng đến hôm nay: Doyenné du Comice ra đời ở vùng Angers của Pháp, còn Williams là giống Anh mà người Mỹ quen gọi là Bartlett. Chính giai đoạn này định hình hình dung của người phương Tây về lê: quả mềm, ứa nước, ngọt thanh, khác hẳn thứ lê cứng phải hầm của thời trước.
Song song với vườn tược là bếp và bàn rượu. Lê hầm vang đỏ, mứt lê và rượu poire chưng cất từ quả chín đã đưa mùi lê vào ký ức khứu giác của cả một vùng văn hoá. Trong tranh tĩnh vật châu Âu, quả lê xuất hiện đều đặn như biểu tượng của sự dồi dào lặng lẽ. Ở Đông Á, lê chưng đường phèn gắn với ý niệm làm dịu và làm mát cơ thể.
Perfumery đến với lê khá muộn vì lý do kỹ thuật: không cách nào lấy mùi quả lê bằng chưng cất. Phải đợi tới khi hoá học hương liệu làm chủ nhóm ester trái cây và kỹ thuật phân tích không gian hơi trưởng thành, giới nguyên liệu mới dựng được base lê thuyết phục. Từ thập niên 1990 trở đi, lê trở thành trụ cột của mảng fruity floral, và việc một chai như Jo Malone English Pear & Freesia đặt thẳng tên quả lê lên nhãn cho thấy nó đã đủ sức đứng ở vị trí chủ đề.
Cách perfumer dùng
Vị trí quen thuộc của lê là top note và phần đầu của tầng giữa. Các phân tử tạo nên nó nhẹ và bay nhanh, nên vai trò chính là mở màn: làm mềm cú chạm đầu tiên, tạo độ mọng trước khi hoa hoặc gỗ bước vào. Liều lượng cần tiết chế, vì đẩy cao quá thì lê trượt sang mùi kẹo trái cây hoặc mùi nước xả vải. Perfumer thường neo lê bằng một chút xanh của lá hoặc chút chát của vỏ để nó còn tính chất quả thật.
Các cặp phối kinh điển đều xoay quanh việc kéo lê về một trong hai hướng. Lê đi với freesia, hoa nhài trắng hoặc linh lan cho hiệu ứng sạch trong, gần như trong suốt. Lê đi với hoa hồng và vải thiều cho vẻ nữ tính bóng bẩy. Lê đi với musk trắng và patchouli sạch tạo kiểu hiện đại, dễ mặc đi làm. Còn lê đi với caramel, tonka hay vanilla thì trở thành gourmand nhẹ, ngọt mà không nặng. Ghép lê với tuyết tùng hoặc vetiver là cách nhanh nhất để đưa note này sang vùng unisex.
Về hiệu năng, lê thuộc nhóm ngắn hơi. Nó hiếm khi sống trọn tới drydown, nhưng dấu vết của nó vẫn ám vào nền musk như một lớp ánh sáng mờ. Vì tươi và không nặng mùi, lê hợp ban ngày, hợp khí hậu nóng ẩm như Việt Nam, hợp công sở hoặc lớp học nơi một mùi quá nồng dễ gây phiền. Đây cũng là note an toàn cho người mới bắt đầu, và là lựa chọn tốt khi bạn muốn thơm mà không muốn bị chú ý.
Trong kho Moyar, Moschino Toy Boy dùng sắc lê ở lớp mở như một mảng tươi bóng trước khi gia vị và gỗ kéo tổng thể về hướng nam tính hiện đại. Lattafa Ramz Silver giữ phần quả ở thế mát và sạch, biến nó thành tia sáng đầu mũi cho mảng gỗ phía sau. Jimmy Choo I Want Choo Le Parfum thì đặt sắc quả trên nền ngọt ấm, khiến nét lê đậm và tối hơn hẳn.
