Da thuộc
Da thuộc trong nước hoa là một accord do perfumer dựng nên, không phải tinh dầu lấy ra từ tấm da thật. Người ta ghép nhựa bạch dương hun khói, styrax, castoreum cùng nhiều phân tử tổng hợp để tái tạo mùi xưởng thuộc da: khô, ám khói, hơi mặn, thoáng vị thuốc. Liều lượng quyết định gương mặt của nó. Tay nhẹ thì ra suede mềm như lớp lót găng tay, tay nặng thì thành da yên ngựa cứng cỏi, sực mùi hắc ín. Cảm giác nó để lại thường gắn với sự trưởng thành: ấm, có khoảng cách, có phong thái, không cần nói to. Trên Moyar, da thuộc nằm trong họ Phương Đông vì hiếm khi đi một mình mà luôn có nhựa thơm, gia vị hoặc vanilla đi cùng.
Hành trình của Da thuộc
Nghề thuộc da ra đời trước nghề nước hoa rất lâu, và chính nó tạo ra thứ mùi mà ngày nay chúng ta gọi là leather. Để làm mềm và bảo quản da sống, thợ thuộc dùng vỏ cây giàu tannin, dầu cá và nhựa bạch dương chưng khô. Thứ nhựa đen sánh ấy để lại trên tấm da một mùi khói ẩm rất đặc trưng, về sau được giữ lại như dấu ấn riêng của loại da mà châu Âu quen gọi là cuir de Russie.
Grasse, thủ phủ nước hoa của Pháp, khởi đầu là một thành phố thuộc da. Găng tay da Grasse bán đi khắp châu Âu, nhưng mùi thuộc da bám lại trên sản phẩm thì quá nặng với khứu giác giới quý tộc. Thợ làm găng bắt đầu ướp hoa và nhựa thơm lên da để át mùi, rồi lập hẳn phường hội riêng cho nghề vừa làm găng vừa làm hương. Khi ngành găng tay lụi tàn, phần hương ở lại và trở thành nền móng cho cả công nghiệp nước hoa Grasse.
Đầu thế kỷ 20, da thuộc bước vào chai theo nghĩa nghệ thuật chứ không còn là mùi phải che giấu. Caron ra mắt Tabac Blond năm 1919, Chanel làm Cuir de Russie năm 1924, rồi năm 1944 Robert Piguet tung ra Bandit với phần da xanh, đắng và gai góc do Germaine Cellier dựng. Ba chai ấy định hình ba nhánh đến giờ vẫn còn nguyên: da ngọt ám khói, da nhựa sang trọng, và da khô sắc lạnh.
Nửa sau thế kỷ 20, hoá học hương liệu bổ sung cho perfumer những vật liệu tinh xảo hơn nhựa bạch dương thô, cho ra sắc da lộn mượt, ấm, hơi ngọt gia vị mà không kéo theo khói hắc ín. Nhờ đó da thuộc đi được vào nước hoa đại chúng, xuất hiện trong vô số chai nam hiện đại dưới dạng một lớp nền ấm. Song song, dòng niche lại kéo note này về phía nguyên bản hơn, ghép cùng oud và nhựa thơm Trung Đông.
Cách perfumer dùng
Trong tháp hương, da thuộc gần như luôn nằm ở base, đôi khi ló lên từ cuối heart. Đây là note có sức nặng, thuộc nhóm vật liệu perfumer phải cân từng phần nghìn: quá tay một chút là cả chai ngả sang mùi nhựa đường và cao su cháy, nhẹ tay quá thì chỉ còn một lớp ấm mơ hồ. Tính cách của nó cũng hiếm khi trung lập. Da thuộc luôn mang một thái độ, hoặc lịch lãm kiểu áo khoác may đo, hoặc thô ráp kiểu yên ngựa.
Các cặp phối kinh điển đều xoay quanh việc làm dịu hoặc làm sắc note này. Phối với hoa hồng cho ra thế đối lập cổ điển nhất, cánh hoa mềm đặt trên nền da khô, vừa nữ tính vừa lì lợm. Phối với thuốc lá và mật ong thì da ngả ấm, gần như ăn được, rất hợp mùa lạnh. Phối với iris hoặc lá violet cho ra suede mềm, phấn, dễ mặc đi làm. Còn ghép với oud và nhựa labdanum, da thuộc trở về đúng chất phương Đông đậm đặc, nhiều lớp, kén người.
Về hiệu năng, đây là một trong những họ note bám tốt nhất. Longevity thường tính bằng cả ngày trên da khô, còn projection lại không hung hăng: da thuộc toả mạnh trong nửa giờ đầu rồi rút vào sát da, để lại vệt sillage ấm chỉ người đứng gần mới nhận ra. Vì thế nó hợp buổi tối, mùa thu đông, dịp cần chỉn chu. Người mới nên bắt đầu từ nhánh suede sáng thay vì nhánh khói.
Trong kho Moyar, Montblanc Explorer là cách tiếp cận dễ chịu nhất, da thuộc nằm ở giữa chai và được vetiver cùng patchouli giữ cho khô ráo, không hề nặng nề. Montblanc Explorer Extreme đi cùng hướng nhưng đẩy phần gỗ đậm hơn, khiến sắc da rõ và tối hơn bản gốc. Còn Salvatore Ferragamo Bright Leather đặt note này ra chính giữa sân khấu, một sắc da sáng và sạch nằm dưới lớp cam chanh mở đầu, hợp người muốn nghe rõ chất da mà chưa sẵn sàng cho nhánh khói.
