Thuốc lá
Note thuốc lá lấy mùi từ lá đã ủ chín, không phải từ khói điếu thuốc đang cháy. Nguyên liệu chính là tobacco absolute, làm từ lá Nicotiana tabacum sau khi phơi và ủ lên men, cho ra thứ nước sánh màu nâu sẫm với mùi mật ong, cỏ khô, mận sấy và ca cao, bên dưới là chút hăng thảo mộc rất riêng. Trên da, note này ấm và tối, có độ ngọt tự nhiên nhưng không phải kiểu ngọt đường. Nó gợi phòng khách ốp gỗ, hộp xì gà vừa mở nắp, chiếc áo khoác treo lên sau một buổi tối dài. Trong bảng phân loại của Moyar, thuốc lá thuộc họ Phương Đông vì gần như luôn đứng cạnh vanilla, nhựa thơm và gia vị ấm.
Hành trình của Thuốc lá
Cây thuốc lá thuộc chi Nicotiana, quê gốc ở châu Mỹ, nơi lá của nó được dùng trong nghi lễ và giao tiếp cộng đồng từ rất lâu trước khi người châu Âu đặt chân tới. Sau các chuyến hải hành thế kỷ 16, cây được đưa về châu Âu và lan đi cực nhanh, ban đầu dưới danh nghĩa dược liệu. Tên chi Nicotiana chính là dấu vết còn lại của Jean Nicot, nhà ngoại giao Pháp đã giới thiệu loại cây này ở triều đình Paris.
Mùi thơm mà perfumer dùng không đến từ lá tươi. Lá tươi hắc, xanh và gần như vô duyên. Chỉ sau công đoạn phơi và ủ, đường trong lá mới chuyển hoá, sinh ra các hợp chất cho mùi mật ong, quả khô và ca cao. Nguyên liệu quen thuộc của ngành hương gắn với các giống lá vàng và lá phương Đông, xử lý bằng nhiều kiểu ủ khác nhau, mỗi kiểu để lại một sắc mùi riêng, từ ngọt mượt tới khô rơm.
Trong văn hoá, thuốc lá gắn với những không gian rất cụ thể: câu lạc bộ quý ông thế kỷ 19, phòng hút xì gà, quán cà phê. Chính lớp nghĩa xã hội đó khiến note này hấp dẫn với nhà làm hương, vì nó chở theo cả một khung cảnh chứ không riêng một mùi. Caron bắt được điều này rất sớm với Tabac Blond năm 1919, chai gắn liền với hình ảnh người phụ nữ hút thuốc, khi ấy còn là hành vi gây tranh cãi.
Note thuốc lá giữ vị trí ổn định suốt thế kỷ 20 trong dòng hương nam da thuộc, rồi bùng nổ trở lại khi Tom Ford ra mắt Tobacco Vanille năm 2007. Chai này đưa thuốc lá về phía ngọt, ấm, gần với gourmand, và kéo theo hàng loạt sáng tác cùng hướng ở cả nhà lớn lẫn nhà Trung Đông. Từ đó, thuốc lá thành một trong những note dễ nhận ra nhất của hương nam hiện đại.
Cách perfumer dùng
Thuốc lá làm việc ở tầng đáy của sáng tác, thi thoảng vươn lên nửa sau heart. Tobacco absolute đậm đặc tới mức chỉ vài phần trăm trong công thức đã đủ nhuộm màu cả chai, nên perfumer dùng nó như gia vị kết cấu: lượng nhỏ tạo chiều sâu tối, lượng lớn khi muốn cả sáng tác mang danh tính thuốc lá. Ở liều cao, note này dễ ngả sang mùi tro và cỏ mục, vì thế gần như luôn được đỡ bằng vật liệu ngọt hoặc nhựa thơm.
Cặp phối kinh điển nhất là thuốc lá với vanilla và tonka. Vanilla làm tròn phần khô của lá, tonka thêm hạnh nhân và cỏ khô, kết quả là thứ mùi ấm áp mà cả thị trường đi theo suốt hai thập niên. Ghép với gia vị nóng như quế và tiêu, thuốc lá trở nên sắc và nam tính hơn hẳn. Ghép với hoa cam hoặc mật ong thì nó ngọt và cổ điển. Còn khi đứng cạnh da thuộc và nhựa thơm, note này lùi về vai trò bóng tối, làm nền cho những sáng tác nặng đô.
Về hiệu năng, thuốc lá thuộc nhóm bám lâu và toả vừa phải. Nó ít khi gây choáng ở phút đầu, nhưng ở lại trên áo tới hôm sau. Đây là note của mùa lạnh và buổi tối, hợp dịp trang trọng hơn văn phòng ban ngày, hợp người thích mùi trưởng thành, có chiều sâu. Ở khí hậu nóng ẩm như Việt Nam, nên xịt tay nhẹ và ưu tiên bản có phần đầu tươi.
Trong kho Moyar, Dolce & Gabbana The One Pour Homme Eau de Parfum là ví dụ dễ chịu nhất, thuốc lá ở đây được gừng và bạch đậu khấu giữ cho sáng, ấm mà vẫn lịch sự đủ để mặc đi làm. Dolce & Gabbana The One Pour Homme Parfum đi sâu hơn về phía gia vị và nhựa, đậm và tối hơn, hợp buổi tối. Viktor & Rolf Spicebomb Extreme Pour Homme thì đặt thuốc lá cạnh vanilla và tiêu, cho hướng ngọt cay rõ rệt, toả mạnh và dễ nhận diện.
